01Kiến thức cần nhớ
1. Lực và cách biểu diễn
Lực là đại lượng đặc trưng cho tác dụng của vật này lên vật khác, làm vật bị biến dạng hoặc làm thay đổi vận tốc (tức là gây ra gia tốc). Đơn vị của lực trong hệ SI là niutơn, kí hiệu . Dụng cụ đo lực là lực kế.
Lực là đại lượng vectơ, kí hiệu . Ta vẽ một lực bằng một mũi tên có:
- gốc là điểm đặt của lực (nơi lực tác dụng lên vật);
- phương và chiều của mũi tên là phương và chiều của lực;
- độ dài tỉ lệ với độ lớn của lực, theo một tỉ xích chọn trước (ví dụ ứng với ).
2. Hợp lực và quy tắc hình bình hành
Nhiều lực cùng đặt vào một vật (đồng quy tại một điểm) có thể được thay bằng một lực duy nhất gây ra cùng tác dụng. Lực duy nhất đó gọi là hợp lực, phép thay thế gọi là tổng hợp lực:
Với hai lực, ta dùng quy tắc hình bình hành: vẽ hai mũi tên , chung gốc, dựng hình bình hành nhận hai mũi tên làm hai cạnh. Đường chéo xuất phát từ gốc chung biểu diễn hợp lực .
Vuông góc: dùng Pi-ta-go.
Kéo đầu mút F₁ và F₂ (lưới 0,5 N) hoặc bấm các trường hợp đặt sẵn. Hợp lực là đường chéo hình bình hành; thử đưa hai lực về cùng chiều, ngược chiều, vuông góc rồi so với bảng.
Độ lớn hợp lực suy ra từ định lí côsin cho tam giác lực. Gọi là góc giữa hai lực khi đặt chung gốc ():
Bốn trường hợp thường gặp:
| Hai lực | Góc | Độ lớn hợp lực | Chiều hợp lực |
|---|---|---|---|
| Cùng chiều | cùng chiều hai lực | ||
| Ngược chiều | cùng chiều với lực lớn hơn | ||
| Vuông góc | đường chéo hình chữ nhật | ||
| Hai lực bằng nhau, | đường phân giác của góc |
Điều thú vị: lực càng "kéo ngược nhau" thì hợp lực càng nhỏ. Hai lực hợp góc cho hợp lực chỉ , đúng bằng mỗi lực thành phần. Khi góc đạt , hai lực triệt tiêu nhau.
3. Phân tích một lực
Phân tích lực là phép ngược của tổng hợp: thay một lực bằng hai lực thành phần có cùng tác dụng. Có vô số cách phân tích; cách hữu ích nhất là chọn hai phương vuông góc , (ví dụ phương ngang và phương thẳng đứng, hoặc phương dọc mặt nghiêng và phương vuông góc với nó).
Nếu hợp với trục góc thì hai thành phần là
Kéo đầu mút của F. Fx và Fy là hai cạnh hình chữ nhật; đưa F lên sát trục để thấy một thành phần về 0, và kiểm lại F bằng căn của Fx² + Fy².
4. Tổng hợp nhiều lực bằng phép chiếu
Với ba lực trở lên, quy tắc hình bình hành phải áp dụng lần lượt, khá rườm rà. Cách gọn hơn: chọn hệ trục , phân tích từng lực, cộng riêng từng trục.
Thành phần có thể âm (lực hướng ngược chiều trục). Nhờ vậy, việc cộng vectơ trở thành việc cộng số.
02Tóm tắt
- Lực là vectơ, đơn vị niutơn (); vẽ bằng mũi tên có điểm đặt, phương, chiều, độ dài theo tỉ xích.
- Hợp lực: theo quy tắc hình bình hành; ; .
- Phân tích lực theo hai trục vuông góc: , .
- Nhiều lực: chiếu lên , , cộng từng trục, rồi .
03Mở rộng
Tam giác lực. Thay vì hình bình hành, có thể nối các mũi tên "đầu nối đuôi": rồi đặt từ ngọn ; mũi tên từ gốc đến ngọn cuối là hợp lực. Với nhiều lực, ta được đa giác lực; nếu đa giác khép kín thì hợp lực bằng . Cách nhìn này dùng nhiều ở bài cân bằng ba lực.
Một lực phân tích thế nào cũng được? Về toán thì đúng, vì từ một đường chéo ta vẽ được vô số hình bình hành. Nhưng về vật lí, ta chọn hai phương gắn với chuyển động hay với tác dụng của lực (phương trượt và phương ép vuông góc mặt tiếp xúc) để mỗi thành phần có một ý nghĩa riêng.