01Kiến thức cần nhớ
1. Nhiệt lượng kế đơn giản
Cốc xốp (polystyrene) có nắp dẫn nhiệt kém, giữ cho nhiệt toả ra trong cốc hầu như không thất thoát ra ngoài. Trộn các chất phản ứng trong cốc, khuấy đều, ghi nhiệt độ đầu và nhiệt độ cao nhất (hoặc thấp nhất) của dung dịch.
Nhiệt lượng nước (dung dịch loãng) nhận được hay mất đi:
với là khối lượng dung dịch (g), nhiệt dung riêng của nước (dung dịch loãng coi như nước, ), tính bằng K hay °C đều như nhau (chỉ là hiệu).
2. Từ đến
tính cho mol chất, nên cần số mol chất phản ứng hết (chất hết trước, không dùng chất dư):
- Dung dịch nóng lên (): phản ứng toả nhiệt, .
- Dung dịch lạnh đi (): thu nhiệt, (khi đó tính từ ).
Giá trị lí thuyết của phản ứng trung hoà acid mạnh – base mạnh là , .
Bấm Chạy, đọc nhiệt độ đỉnh, rồi tăng độ cách nhiệt: ΔrH tiến gần giá trị lí thuyết.
3. Nguồn sai số
- Mất nhiệt ra không khí và vào cốc: ΔT đo được nhỏ hơn thật, nên đo được nhỏ hơn lí thuyết.
- Không khuấy đều, nhiệt kế đọc chưa tới đỉnh.
- Dùng của nước cho dung dịch có nồng độ cao.
- Làm nhiều lần và lấy giá trị trung bình của để giảm sai số ngẫu nhiên.
02Tóm tắt
| Ý | Nội dung |
|---|---|
| Nhiệt lượng kế | Cốc xốp có nắp, nhiệt kế, khuấy đều |
| , | |
| (nóng lên), của chất hết | |
| Sai số | Mất nhiệt làm đo được nhỏ hơn lí thuyết |
03Mở rộng
Hiệu chỉnh mất nhiệt bằng ngoại suy
Khi vẽ nhiệt độ theo thời gian, sau khi đạt đỉnh nhiệt độ hạ dần vì mất nhiệt. Kéo dài phần đường hạ dần ngược về thời điểm trộn (ngoại suy) sẽ cho nhiệt độ cao nhất "lí tưởng" khi chưa mất nhiệt, lớn hơn đọc trực tiếp. Dùng này cho kết quả gần giá trị lí thuyết hơn. Nhiệt dung của chính cốc cũng được tính thêm vào trong thí nghiệm chính xác.